Trang

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

Truyện ngắn: Nhiệm vụ bất đắc dĩ


Thưa bạn,
Chuyện mà tôi sắp chia sẻ sau đây sẽ giúp bạn hình dung một phần công việc mục vụ của một linh mục phục vụ trong một cộng đoàn Tây như thế nào.  Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, tôi cũng đã từng có một khoảng thời gian nhiều năm dài sinh hoạt và phục vụ tại các giáo xứ ở Đồng Nai và Sài Gòn trước khi sang Canada tu học, chịu chức làm linh mục rồi phục vụ tại đây.  Nhưng tôi chưa hề thấy một sự việc tương tự như thế này xảy ra bên Việt Nam.  Nó có khá nhiều tình tiết lạ kỳ nên tôi nghĩ mình nên kể cho bạn nghe.  Nghe không phải để cho vui mà là để thương, để đồng cảm với những người trong cuộc và biết đâu cũng sẽ là cơ hội tốt giúp bạn suy nghĩ về giá trị bền vững của Hôn nhân Kitô giáo; và nếu được vậy chắc hẳn cũng sẽ giúp ích ít nhiều cho cuộc sống hôn nhân của chính bạn hiện nay và mai sau.
Chuyện là thế này: Hôm đó là một buổi chiều thứ Sáu trong tháng 8 (năm 2010).  Tôi đang ngồi làm việc trong văn phòng của mình ở giáo xứ thì nhận được một cú điện thoại từ Sở Công bằng Xã hội (The Social Justice Offcie).  Cô nhân viên ở đó tha thiết xin tôi, trong tư cách là một linh mục, giúp cho họ một việc mà theo cô nói là vượt quá khả năng của họ.  Thoạt đầu tôi cũng phân vân do dự vì chưa biết là việc gì, rồi cô ta giải thích, cung cấp thêm thông tin và nhiều chi tiết khác giúp tôi hiểu được phần việc phải làm như thế nào nên cuối cùng tôi quyết định đồng ý giúp cho họ công việc ấy.
Công việc khá đơn giản.  Tôi chỉ cần có mặt ở văn phòng của mình vào đúng 6g chiều theo những ngày đã được quy định và rồi ở vào thời điểm đó sẽ có một cặp vợ chồng lần lượt đem con của mình đến, kẻ trước, người sau cách biệt trong một khoảng thời gian từ 5 đến 10 phút.  Một người sẽ phải đến ở cửa trước và một người sẽ phải đến ở cửa sau của văn phòng giáo xứ.  Xin được nhắc lại với bạn là họ phải đến ở hai cửa trước và sau, tuyệt đối sẽ không có chuyện hai người đến cùng một lúc và vào cùng một cửa.  Phần tôi, tôi có nhiệm vụ mở cửa cho họ, đón tiếp họ và đứa bé vào trong văn phòng của mình, rồi chờ người đến sau.  Khi người thứ hai đến, tôi sẽ lại ra mở cửa và đưa đứa bé đã đến trước cho người đến sau và dẫn đứa bé đến sau đem ra giao cho người đến trước.  Công việc chỉ có vậy, thật đơn giản và chỉ mất chừng vài phút là hoàn thành nhiệm vụ. 
Cô nhân viên sở Công bằng Xã hội giải thích cho tôi rằng đây là một cặp vợ chồng có hai con đã ra toà ly dị cách đây gần sáu tháng.  Các thủ tục pháp lý về ly dị đã hoàn tất, chỉ một vấn đề còn chưa giải quyết được là chuyện trách nhiệm trông nom và nuôi giữ con.  Trong khoảng thời gian gần nửa năm qua, họ đã chọn khu vực đậu xe của một siêu thị để làm công việc chuyển giao con cho nhau.  Nhưng đã rất nhiều lần cảnh sát phải có mặt để can thiệp vì hai người không ai chịu ai, cứ thấy mặt nhau là lớn tiếng gấu ó, miệt thị, chửi rủa, xúc phạm lẫn nhau.  Xét thấy sự xúc phạm nhau của hai người lớn trước mặt hai đứa trẻ sẽ có tác động xấu, làm tổn thương đến tâm lý của chúng nên họ đã phải di chuyển địa điểm giao nhận con sang nhiều khu vực khác nhau nhưng cũng không thành công.  Họ đã mất khá nhiều công sức, đau đầu để tìm kiếm một địa điểm thích hợp cho việc này nhưng vẫn không thành công và cuối cùng giải pháp tốt nhất được tìm ra là khu vực nhà xứ, nhà thờ và sự hiện diện của một linh mục cho phần việc đó.
Sau khi đã hiểu rõ câu chuyện, tôi đồng ý làm phần việc này với đôi chút cảm giác ngậm ngùi và chua xót.  Hôn nhân tan vỡ và hậu quả của sự tan vỡ ấy là vô cùng lớn không chỉ cho bản thân của hai người trong cuộc mà còn liên lụy, ảnh hưởng đến con cái và xã hội.  Nhiều và rất nhiều hệ lụy tiêu cực xảy ra khi hôn nhân tan vỡ, nó ảnh hưởng xấu đến biết bao nhiêu người và làm thành gánh nặng cho xã hội và cho những ai muốn xây dựng một cuộc sống thanh bình và êm ả. 
Ngày đầu tiên và ngày thứ hai diễn ra suôn sẻ, dường như không có gì để nói.  Người đến trước luôn là anh chồng, một người Canada da trắng to lớn, vạm vỡ và khoẻ mạnh.  Anh ta dẫn theo một người phụ nữ và giới thiệu với tôi là bạn gái của anh ta.  Trời ạ, chia tay chưa được 365 ngày mà đã đèo bồng thêm người khác, tay này thật là can đảm và anh hùng, nói theo kiểu Việt Nam là điếc không sợ súng hay có thể nói là thấy quan tài mà không đổ lệ.  Đi theo hai người là một bé trai khoảng 10 tuổi.  Tôi đưa họ vào văn phòng của mình, mời họ ngồi và câu chuyện mới chỉ bắt đầu được đôi ba phút thì tiếng chuông cửa trước lại rung lên.  Tôi phải đứng dậy, cắt ngang câu chuyện để ra đón tiếp người phụ nữ là vợ cũ của anh ta.  Chị này cũng là một người da trắng, cũng to, cao và mang dáng vẻ nặng nề, phục phịch.  Đi theo chị là một bé gái chừng 5 tuổi rất dễ thương và xinh xắn.  Theo lời căn dặn của cô nhân viên làm ở Sở công bằng Xã hội thì tôi phải chặn người phụ nữ này lại ngay tại cửa chính, không cho chị ta tiến vào sâu hơn.  Tôi chào hỏi, tự giới thiệu mình ngay tại đó, rồi dẫn bé gái vào để giao cho người bố, rồi dẫn cậu bé ra trao cho người mẹ.  Đợi cho tiếng chào tạm biệt vang lên, tiếng cài khóa cửa vừa dứt thì hai người trong văn phòng của tôi cũng xuất hiện ở hành lang dẫn theo bé gái để chào tạm biệt tôi và ra về.  Đó là chuyện xảy ra ở lần thứ nhất và thứ hai cách nhau một tuần.
Nhưng đến lần thứ ba thì bắt đầu có phiền toái xảy ra.  Anh chồng đã đến không đúng giờ hẹn vì một tai nạn va chạm xe trên đường.  Tôi đã phải ngồi tiếp chuyện người phụ nữ và đứa bé con của chị trong vòng gần một tiếng đồng hồ khi mà cái bụng của tôi đang bắt đầu sôi lên vì đói.  Lần này, vì phép lịch sự tối thiểu và cũng không thể cứ đứng ở cửa mà đợi chờ người chồng đến, tôi mời chị ta tạm vào phòng khách ngồi chờ.  Thế là bắt đầu một màn tra tấn.  Chị ta than phiền, kể lể tội tình của chồng bằng một giọng chua chát và căm hận.  Chị ta nói về một người đã từng tay kề tay, gối kề gối của mình bằng những lời lẽ hết sức nặng nề và không ngừng kết tội, lên án anh chồng.  Tôi đã phải nghe và hứng chịu trong suốt gần 45 phút đồng hồ cơn thịnh nộ mà chị luôn muốn và sẵn sàng dành cho ông chồng nếu có cơ hội.  Thú thật với bạn là sau lần nói chuyện này, tôi ít nhiều có được những kinh nghiệm quý báu về sự tự do độc thân và gánh nặng trong hôn nhân gia đình.  Cuối cùng thì anh ta cũng đến, tôi lại phải nhanh trí và nhanh chóng sắp xếp sao cho họ không chạm mặt nhau vì nếu không rất có thể “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”, thiệt oan uổng lắm thay!
Nếu có thể kể thêm, còn nhiều sự phiền muộn khác, đó là chuyện họ luôn chọn đến vào giờ cơm chiều của tôi.  Nhiều khi đang nấu cơm, đang làm thức ăn hoặc đang ăn cơm chiều thì tiếng chuông cửa vang lên...  tôi đành phải bỏ dở chuyện của riêng mình đang làm để đón tiếp họ.  Lâu dần, tôi đành phải thay đổi giờ cơm chiều của mình vì họ.
Hoặc như thái độ của người phụ nữ khi đến đón hay giao hai đứa bé.  Chị ta luôn lạnh lùng và khó chịu.  Thái độ của chị ta làm cho tôi có cảm nghĩ rằng tôi đang làm một công việc mà tôi phải làm.  Nhiều khi không thèm thốt lên một lời chào, không bật ra được một lời cảm ơn khi giao và nhận con. 
Mọi chuyện cứ diễn ra đều đặn một tuần hai lần như thế cho đến khi tôi phải vắng nhà một tuần để dự kỳ tĩnh tâm năm của các linh mục.  Cặp vợ chồng này đã được thông báo lý do tôi phải vắng mặt nên họ phải chuyển địa điểm giao nhận con tại nhà xứ sang nhà trẻ.  Tại đó, vì không có người thứ ba làm trung gian nên ngay lần thứ nhất họ đã trực diện gặp mặt nhau, chuyện cũ lại bùng lên, họ lại lao vào hành hạ nhau bằng những lời nói nặng nề, nhiếc móc, sỉ nhục nhau… Chưa hết, người phụ nữ, sau khi về đến nhà đã gọi điện thoại cho cảnh sát cáo buộc anh chồng có ý đồ muốn hành hung và muốn giết chị ta.  Cảnh sát ngay lập tức ập đến và bắt anh chồng đem đi nhốt trong tù.  Sau hai ngày thẩm tra mà không tìm ra chứng cứ buộc tội, họ đã trả tự do cho anh ta.
Trở về nhà sau tuần tĩnh tâm, tôi bàng hoàng khi nghe anh chồng kể lại toàn bộ sự việc và anh ta tha thiết xin tôi ra tòa làm chứng cho anh.  Sau đó khoảng 3 tuần tôi đã được tòa án và luật sư đôi bên mời đến để làm chứng và có ý kiến về sự việc đã xảy ra. 
Bạn thân mến, câu chuyện tôi muốn kể cho bạn nghe là vậy.  Chắc bạn đã có thể hình dung được những chi tiết chính của câu chuyện.  Tôi muốn nói thêm cho bạn biết rằng giờ đây, sau hơn một năm nhận lời giúp Sở Công bằng Xã hội thì công việc mà tôi đảm nhận, công việc mà tôi gọi là Nhiệm vụ bất đắc dĩ vẫn còn tiếp diễn.  Thật tôi cũng không biết đến khi nào thì sự việc sẽ có thể được coi là kết thúc.  Thôi thì làm được bao nhiêu hay bấy nhiêu dù thật lòng không muốn liên lụy thêm.  Âu đó cũng là một phần trong ơn gọi và sứ mạng của mình, ơn gọi và sứ mạng đem sự hòa giải và bình an, góp phần xoa dịu đau khổ mà anh em đồng loại đang phải hứng chịu vì nhiều nguyên nhân khác nhau.  
Tôi cũng muốn nhân đây kể thêm cho bạn nghe một câu chuyện khác, câu chuyện về một lần đi ngồi tòa giải tội cho các em học sinh tại một trường tiểu học Công giáo trực thuộc giáo xứ mà tôi là linh mục tuyên úy.  Tại đó, tôi đã gặp một em học sinh lớp 6 đến xưng tội trong bộ dạng thểu não u buồn, quần áo thì lôi thôi nhàu nát, mái tóc rối bời và khuôn mặt thì u uất ẩn chứa những tâm sự buồn.  Thoạt nhìn thấy bộ dạng của em, tôi đã có linh cảm đây là một cậu bé sống thiếu sự chăm sóc và bàn tay vỗ về chăm lo của người Mẹ.  Mà quả đúng là như vậy thật.
Ở tòa giải tội tôi đã đón tiếp em trong sự dịu dàng ân cần nhưng nhiêu đó cũng không đủ xóa bỏ một khoảng cách xa lạ.  Ngay từ đầu tôi đã cảm thấy thật khó mà bắt chuyện với em cách cởi mở, chỉ đến khi tôi bật lên một câu hỏi về Cha Mẹ của em, về gia đình của em thì em bỗng nhiên òa lên khóc nức nở, những giọt lệ nhanh chóng tuôn ra thành hàng chảy dài trên khuôn mặt.  Em nức nở và nghẹn ngào kể cho tôi rằng Cha Mẹ em đã ly dị, giờ đây mỗi người một phương và em hiện sống với ba của mình. 
Thú thật với bạn, khi nghe câu chuyện của cậu bé, tôi thấy khóe mắt mình cay cay lúc nào không biết.  Nó là một cảm xúc rất tự nhiên và rất con người.  Tôi đã dành nửa giờ để an ủi, chia sẻ với em về những gì mà em đang phải hứng chịu.  Tôi hiểu và đồng cảm cùng cậu bé về những thiếu thốn mà cậu đang phải nhận lãnh: sự thiếu tình thương, thiếu sự chăm sóc, thiếu sự an ủi, nâng đỡ vỗ về.  Cậu là kết quả của tình yêu, là hoa trái của một cuộc tình nhưng oái oăm thay nay cậu lại là nạn nhân của sự đổ vỡ.  Cậu đã và đang phải gánh chịu biết bao nhiêu là bất công do những người mà cậu gọi là Cha Mẹ gây ra.  Thật tội nghiệp và bất công cho cậu biết bao nhiêu.  Trí óc non nớt của cậu làm sao có thể hiểu được và không ai có thể tiên báo trước cậu sẽ còn phải gánh chịu hậu quả này đến bao lâu nữa.
Bạn thân mến, có cả ngàn, trăm ngàn lý do để đưa đến chuyện ly dị và một khi căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm, hai người, hai nhân vật chính trong sự việc thường mong muốn câu chuyện của họ đi đến kết thúc nhanh chóng nhất và sớm nhất có thể.  Họ chẳng nghĩ đến con cái hay nói đúng hơn, họ không nghĩ đến chúng và tương lai của chúng nữa.  Lúc này chỉ mong muốn mau tìm được tự do, được giải thoát khỏi nhau, để khỏi là gánh nặng của nhau mà thôi.  Thật tội nghiệp cho con cái biết bao, chúng là những nạn nhân đầu tiên của ly dị, của đổ vỡ hôn nhân trong gia đình. 
Điều đó thật đối nghịch nếu trở lại những năm tháng đầu đời Hôn nhân của họ.  Họ đã bước vào đời sống ấy với sự hăm hở và nhiệt huyết của tuổi trẻ mà không hề nghi ngại, hay tiên liệu hết những khó khăn sẽ đến sau này.  Tất cả tiệp một màu hồng.  Và thế rồi một khi sóng gió ập tới, họ chao đảo và phân tán chính mình.  Họ bị khủng hoảng vì chưa được hay không được chuẩn bị kỹ càng.  Giải pháp ly dị là chuyện mà họ thường hay nghĩ đến nhất.
Vậy xin các bạn trẻ, những ai chưa đi vào đời hôn nhân hãy cố gắng dành thời gian để suy nghĩ một cách nghiêm túc về đời hôn nhân, về sự ràng buộc tất yếu sẽ đến trong hôn nhân để có những quyết định sáng suốt và đúng đắn trước khi quyết định.
Hãy suy nghĩ cẩn trọng và cố gắng hết sức để loại bỏ những màu hồng làm che mờ đi những thách đố sẽ đến sau này trong hôn nhân.  Đừng vì sắc đẹp, vật chất hay bất kỳ lý do nào khác làm bạn quên đi trách nhiệm ràng buộc sau này.  Sắc đẹp rồi đây cũng tàn phai theo năm tháng, của cải vật chất chỉ là phù du, nay còn mai mất...  Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại sự trung thành mà thôi.
Với những ai đã và đang sống trong đời sống hôn nhân, xin hãy biết trân quý những gì mình đang có.  Một mái ấm gia đình, một đàn con đang cần sự chăm sóc, bảo bọc và che chở, một người vợ (hay chồng) đang rất cần sự nâng đỡ bổ túc của mình.  Hãy nhớ đến những lời đã thề ước với nhau: sẽ giữ lòng chung thủy cùng nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan; khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời nhau.  Những lời ấy đã được tuyên hứa long trọng công khai và do vậy làm nên bí tích Hôn nhân của hai người.  Những lời ấy làm nên một sự ràng buộc thiêng liêng và chặt chẽ giữa hai người với nhau suốt đời chứ không phải là chỉ ít tháng hay vài năm là có thể chấm dứt đường ai nấy đi.
Khi đã lập gia đình, hai người nên một.  Nên một trong thân xác và nên một trong tinh thần.  Một cộng đồng nho nhỏ được hình thành.  Thời gian trôi qua, con cái lần lượt ra đời.  Hai người trẻ trở thành những ông bố, bà mẹ một cách tự nhiên.  Con cái là niềm vui cho hai người.  Chúng đem lại niềm hạnh phúc vô bờ cho hai bạn trẻ.  Nhưng chắc chắn trách nhiệm sẽ nhiều hơn, hai người sẽ vất vả hơn và nhiều chuyện phải lo toan hơn.  Họ như mất tự do và trở nên dễ cáu kỉnh, mệt mỏi hơn.
Sóng gió trong hôn nhân thì thời nào và gia đình nào cũng có.  Điều cần biết là phải kiên nhẫn chịu đựng, phải chấp nhận và khôn ngoan tìm cách vượt qua.  Có chứ không phải không những phương pháp giúp đôi bạn giải quyết những vấn đề căng thẳng của mình nếu họ chịu khó ngồi lại nói chuyện với nhau để cùng tìm ra cách giải quyết êm đẹp nhất.  Trên hết, còn có ơn Chúa, đôi bạn cần và rất cần cầu nguyện để Chúa giúp sức cho họ trong những vấn đề nan giải trong hôn nhân của mình.
Sau tuần trăng mật là tuần vỡ mật.  Tôi vẫn thường hay nói vui như thế khi dạy Giáo lý Hôn nhân và tôi tin rằng những ai đã và đang sống trong đời hôn nhân đều có dịp trải qua kinh nghiệm quý báu này.  Sau giai đoạn mặn nồng là giai đoạn cay đắng và chua chát với nhau.  Đây là giai đoạn mà những sự thật về nhau được dần dần phát hiện.  Ngỡ ngàng, hụt hẫng, không ngờ... 
Sau tuần trăng mật là thời kỳ mà ngôn ngữ chợ đời thường được đem ra sử dụng.  Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, tất cả các loại võ nếu biết và thậm chí võ mồm đều có thể được đem ra trưng dụng.  Nghe thì chua chát và ảm đạm quá nhưng đó lại là một sự thật không thể phủ nhận.
Bây giờ tôi kể cho bạn nghe một câu chuyện mà có lần tôi đã đọc được đâu đó, nay xin viết lại theo trí nhớ của mình; và để kết thúc, tôi sẽ mượn ý thơ trong bài thơ “Ngập Ngừng” nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh thay cho tâm tình của mình.
Câu chuyện có thể tóm tắt như thế này: Một nữ bác sĩ có phòng khám tư, trong số bệnh nhân đến với bà ngày hôm ấy, có một ông cụ khá lớn tuổi đến để băng bó vết thương trên tay, và theo lời vị bác sĩ này thuật lại thì vì thấy cụ ông cứ hay nhìn đồng hồ, và vào lúc đó bà không bận rộn với bệnh nhân nào, nên bà quyết định khám vết thương cho ông. 
Trong khi săn sóc vết thương cho ông cụ, bà bác sĩ hỏi là phải chăng ông có hẹn với một người nào đó sáng hôm nay, vì thấy ông có vẻ vội vàng.  Ông nói không, chẳng qua chỉ là vì ông cần đi đến nhà dưỡng lão để ăn sáng với vợ ông.  Bà bác sĩ liền hỏi thăm sức khỏe của cụ bà.  Cụ ông cho biết là bà đã ở đó một thời gian rồi và bà hiện đang bị chứng Alzheimer (chứng mất trí nhớ). 
Trong khi trò chuyện, bà bác sĩ hỏi ông cụ là bà cụ có khó chịu chăng nếu ông cụ đến trễ một chút.  Ông trả lời rằng bà ấy không còn biết ông là ai nữa, đã 5 năm nay bà không còn nhận ra ông nữa.  Đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bà bác sĩ đã hỏi ông: “Thế mà Cụ vẫn đến ăn sáng với cụ bà mỗi buổi sáng, mặc dù cụ bà không còn biết cụ là ai nữa?”
Cụ ông vừa mỉm cười vừa vỗ nhẹ vào tay bà bác sĩ và nói: “Bà ấy không nhận ra tôi, nhưng tôi vẫn biết bà ấy là ai.”
Tôi đã thật cảm động khi nghe câu chuyện này, chỉ một mẩu đối thoại ngắn ngủi nhưng súc tích và ý nghĩa.  Và đây là những chia sẻ tâm sự của vị bác sĩ nọ.  Bà nói: Khi ông cụ đi rồi, tôi phải cố gắng cầm nước mắt, còn hai cánh tay tôi nổi da gà.  Tôi nghĩ rằng đây là thứ tình yêu tôi muốn có trong đời. 
Bạn thân mến, “Bà ấy không nhận ra tôi là ai, nhưng tôi vẫn biết bà ấy là ai”.  Mối tình của cụ ông dành cho cụ bà trong câu chuyện mà chúng ta vừa nghe, có thể nói ví von là tình già, ăn đứt tình của những bạn trẻ ngày hôm nay, vốn bị vật chất và sự hưởng thụ, tính ích kỷ làm cho hoen ố và mất hết ý nghĩa.  Tất cả chỉ muốn thu vén cho mình, không biết chia sẻ và cho đi, không biết cho mà chỉ biết nhận, không biết dành thời giờ cho nhau, không biết cảm thông, lắng nghe nhau.  Và có thể nói nếu có phải cho nhau điều gì, họ ưa tính toán chi ly và kể lể về những gì đã làm, đã dành cho nhau -- như thế còn gì là tình nghĩa vợ chồng?
Và đây là hai câu thơ nổi tiếng trong bài thơ “Ngập Ngừng” của thi sĩ Hồ Dzếnh: “Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở, tình mất vui lúc đã vẹn câu thề”. 
Nếu có thể, tôi sẽ xin phép nhà thơ đã quá cố để được ‘cải biên’ lại hai câu thơ trên thành: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, lấy nhau rồi nham nhở lắm em ơi!”.  Nói như thế thì phải chăng có gì đó chua xót nhưng quả là đúng với hai câu chuyện tôi vừa kể cho bạn nghe ở trên phải không thưa bạn?
Xin cầu chúc bạn luôn hạnh phúc trong hôn nhân của mình, cuộc hôn nhân mà bạn đã chọn lựa cho chính mình và xin Chúa luôn chúc lành, luôn hiện diện trong cuộc hôn nhân của bạn.  Hãy cầu xin với Chúa như thế vì ở đâu có Chúa hiện diện, ở đó có HẠNH PHÚC và BÌNH AN.

Truyện ngắn: Nghĩa tử là nghĩa tận


Bạn thân mến,
Thứ Sáu tuần qua tôi cử hành tang lễ cho một cụ bà người Canada hưởng thọ 78 tuổi.  Tang lễ của bà chỉ có vỏn vẹn 14 người tham dự, đó là những người quen biết với bà và có thể nói đó là một tang lễ u buồn nhất mà tôi từng cử hành cho đến nay.  U buồn và ảm đạm không chỉ vì bầu khí của một tang lễ nhưng vì những diễn biến xảy ra trước và sau tang lễ làm cho lòng tôi cảm thấy man mác buồn và phải thú nhận rằng cảm giác ấy vẫn còn vướng bận tâm trí tôi ít nhiều.  Điều đó thôi thúc tôi nên dành thời gian của những buổi chiều Chủ nhật để viết lại câu chuyện chia sẻ cùng bạn và cũng kể cho bạn một vài câu chuyện khác liên quan đến văn hoá tiễn biệt, chia ly của người Bắc Mỹ.
Bà cụ mà tôi muốn kể ở đây có một hoàn cảnh sống khá đặc biệt.  Lập gia đình khi còn rất trẻ, lúc mới 18 tuổi, trải qua mấy chục năm chung sống, hai ông bà có được duy nhất một người con gái, và cô này khi lớn lên rồi cũng lập gia đình, cô sinh ra cho ông bà 2 đứa cháu ngoại, một trai một gái.
Phận tình duyên của cô này không được may mắn.  Người chồng của cô có lẽ là con cháu, hậu duệ của bác thằng Bần thế nên anh ta tối ngày đam mê cờ bạc, hễ rảnh là lại tìm đến mấy sòng bạc casino kéo máy.  Tài sản gia đình do vậy lần lượt đội nón ra đi.  Khủng hoảng nối tiếp khủng hoảng, hai vợ chồng phải bán căn nhà mà họ đang ở, phân chia gia tài và đường ai nấy đi.  Phần người vợ, chị ta ra đi với chút ít vốn liếng còn lại và 2 đứa con mà đứa lớn nhất mới 8 tuổi.
Chị ta buồn giận chồng không nghiêm túc làm ăn, tối ngày chỉ biết cờ bạc, làm bạn với bác thằng Bần, đó là chuyện dễ hiểu nhưng do thất vọng và quá cô độc, chị đã mượn rượu giải sầu.  Ngày qua ngày chị ta trở nên đệ tử trung thành của lưu linh lúc nào không hay.  Nói cho cùng, theo như tôi nghe được, chị cũng có cố gắng cai nghiện và muốn tu chí để trở thành người tốt, một người Mẹ gương mẫu nhưng không thành công và thế là cuối cùng Sở An sinh xã hội đã đến bắt hai người con và cách ly chúng ra khỏi người mẹ.  Họ gửi mỗi đứa đi một gia đình ở hai thành phố khác nhau.  Mẹ con ly tán, chúng lớn lên trong những gia đình xa lạ không phải gia đình ruột thịt của mình và dần quên đi gốc gác thật của mình.
Phần người mẹ, từ khi bị bắt mất con, chị ta trở nên như người mất hồn, sống mà không ra sống, lây lất qua ngày và càng chìm đắm hơn trong rượu chè, say xỉn.  Chị ta cứ thế mà trượt dài, sống một cuộc sống không hy vọng, không tương lai, không tình thương hết sức bi thảm.
Chính vì lẽ đó, khi mẹ mình nằm xuống, chị ta cũng không hề biết cho đến khi cảnh sát truy tìm ra chị và báo tin.  Khi biết tin rồi, chị cũng vẫn cứ như người cõi trên, chẳng biết phải làm thế nào và bắt đầu từ đâu.
Trở lại câu chuyện chính của bà cụ trước khi qua đời khoảng 3 năm.  Do tuổi đã cao, không còn khả năng chăm sóc cho nhau được nữa, cụ ông lại bị bịnh mất trí nhớ (alzheimer) nên họ quyết định mỗi người một nơi.  Ông vào viện dưỡng lão còn bà tiếp tục ở lại cô quạnh, lủi thủi một mình trong ngôi nhà với nhiều kỷ niệm vui buồn.
Và chính tại ngôi nhà này, bà cụ đã trút hơi thở cuối cùng trong sự cô đơn lạnh lẽo mà không một ai hay biết.  Một người bạn già của bà gọi điện thoại đến mà không thấy trả lời.  Sinh nghi bà này liên lạc với cảnh sát và khi đến nơi người ta thấy bà cụ đã chết từ hai ngày trước.
Tôi phải xin mở ngoặc để nói thêm rằng đây không phải là trường hợp cá biệt.  Những trường hợp chết trong nhà mà không một ai biết thường rất hay gặp bên Bắc Mỹ (Mỹ và Canada).  Người hay phát hiện có người chết trong nhà thường là các nhân viên bưu điện.  Sở dĩ như vậy là vì hầu như ngày nào các nhân viên bưu điện đều phải ghé đến bỏ thư hay các tờ quảng cáo vào thùng thư được treo ở phía trước nhà.  Sau mấy lần đến mà không thấy ai ra lấy đi số thư đã bỏ vào thì hầu như có thể kết luận là chủ nhà đó có vấn đề.  Nếu giả như chủ nhân đó vắng nhà do đi du lịch hay đi xa có công việc thì thường họ sẽ thu xếp để có thể có người quen ngày ngày đến lấy thư trong thùng và bỏ vào nhà cho họ.  Thế nên khi bỏ thư mà không thấy nhận, nhân viên đưa thư của bưu điện sẽ liên lạc, thông báo ngay cho cảnh sát để họ đến và xem chuyện gì đã xảy ra.  Thường khi cảnh sát đến, họ phá cửa vào nhà thì thấy có người chết trong đó.
Bà cụ ra đi trong hoàn cảnh như vậy, thật cô đơn lạnh lẽo trong những giây phút cuối đời.  Cảnh sát đã tìm xem các thông tin liên quan đến bà cụ để thông báo.  Người ta tìm ra cô con gái của bà cụ lúc này đang say xỉn nằm ngủ vật vờ ở một trạm xe buýt công cộng.  Họ đưa cô ta về nhà, đợi đến khi cô ta tỉnh hẳn rượu rồi mới thông báo về sự ra đi của Bà Cụ.  Đáp lại những thông tin ấy, cô ta phất tay rồi nói trong âm giọng vẫn còn lè nhè: “mấy người cứ làm việc của mấy người, tôi không có ý kiến gì hết!”  Tôi đã được nghe kể lại những chi tiết này từ người em chồng của bà cụ. 
Thấy không thể có sự cộng tác từ người con duy nhất trong việc lo tang lễ cho Bà Cụ, cảnh sát và Sở An sinh Xã hội lại phải truy tìm người khác.  Họ tìm ra một người em chồng của bà cụ, hiện là giáo viên trung học ở một tỉnh khác cách xa giáo xứ tôi đang phục vụ chừng 7 tiếng lái xe (quãng chừng gần 900km).  Anh này là em chồng nên có thể nói ít nhiều cũng không có quan hệ gần gũi với chị dâu, hơn nữa, vì đang mùa lo cho học sinh thi cử, kết thúc năm học nên anh không thể về ngay để sắp xếp, tổ chức tang lễ cho chị dâu được.  Qua sự sắp xếp giữa anh với dịch vụ an táng bằng điện thoại, người ta đành đem xác bà cụ vào nhà tang lễ và tạm thời để đó cho đến khi anh có thể về để bàn bạc sắp xếp mọi sự.
Cuộc đời của hai người phụ nữ trong câu chuyện tôi vừa kể là một chuỗi dài những tháng ngày đau khổ và thấm đầy nước mắt.  Tôi đã gặp người con gái của bà cụ trước ngày cử hành tang lễ để lắng nghe, tìm kiếm những thông tin về người quá cố và đã được nghe cô con gái kể lại trong nước mắt những chi tiết trên.  Giờ đây khi bà cụ nằm xuống, cô ta không một đồng xu dính túi, tất cả giao phó cho người chú.
Tôi cũng đã gặp người em chồng của bà cụ, người đứng ra đảm nhận trách nhiệm lo tang lễ cho chị dâu mình.  Anh ta cũng cố gắng tỏ ra thiện chí để lo chu tất việc hậu sự.  Nhưng ngặt nỗi lực bất tòng tâm và vì quan hệ với người quá cố cũng không có gì là quá gắn bó.  Thế nên bạn có thể hình dung là anh ta để mặc tôi lo sắp xếp mọi chuyện.  Ngay sau thánh lễ an táng, anh ta đến tìm gặp tôi trong phòng thánh chỉ để nói với tôi rằng: Mọi sự đã xong, ông Cha làm những gì còn lại dùm vì tôi phải lái xe về lại nhà ngay trong chiều nay.  Như thế có nghĩa là cùng với nhân viên nhà quàn, tôi sẽ đưa xác bà cụ ra nghĩa trang và hoàn tất nghi thức an táng, tiễn biệt cho bà cụ mà không có thân nhân hiện diện.  Tôi thật sự ngao ngán, bối rối và cảm thấy chua xót nhiều lắm.
Bạn thân mến,
Tôi đến đất nước này thấm thoát thế mà đã gần bảy năm.  Đó là một khoảng thời gian đủ dài để tôi học thích nghi và đáp ứng với nền văn hoá có những nét xa lạ với văn hoá Việt Nam của mình.  Tôi rời Việt Nam khi tuổi đã bắt đầu khá lớn, và do vậy cũng cảm thấy ít nhiều tự tin và trưởng thành để nhanh chóng hội nhập với văn hoá xứ người.  Tuy nhiên, trái với tất cả những cảm nghĩ ban đầu ấy, tôi đã có cả một khoảng cách khá dài đầy ắp những khủng hoảng để hội nhập với văn hoá xứ người.  Giờ đây khi ngồi nhìn lại quãng đường đã qua, tôi vẫn cảm thấy rùng mình vì biết bao nhiêu là khó khăn mình đã trải qua.  Người bên này, họ có nếp sống văn hoá rất khác lạ so với văn hoá Việt Nam của chúng ta.  Hằng năm, họ dành dụm tiền để du lịch. Năm nào họ cũng đi và thường đi vào kỳ Hè nếu có con cái, hoặc mùa Đông nếu con cái đã lớn và trưởng thành.  Họ đi rất nhiều nơi trên thế giới, biết rất nhiều về lịch sử, văn hoá, địa lý của các nước, họ có thể kể vanh vách tên những địa danh du lịch, thành phố lớn mà họ đã đến viếng thăm.  Thế nhưng một điều thật lạ lùng là họ chẳng bao giờ chịu dành thời gian để tìm hiểu, kết thân với láng giềng.  Nhà nào biết nhà nấy.  Sáng đi làm, chiều về là đóng cửa ở trong nhà, tuyệt nhiên không có chuyện sang chơi nhà hàng xóm.  Nếu cần phải liên lạc, nói chuyện với hàng xóm, họ nhấc điện thoại a-lô, a-lô vài phút là xong.
Họ đi đây đi đó, biết rất nhiều nơi trên thế giới nhưng không hề biết nhà hàng xóm có bao nhiêu người, sinh sống ra sao.  Không ai quan tâm tới ai, mỗi một gia đình là một lối sống khép kín.  Điều đó hoàn toàn trái ngược với văn hóa, sinh hoạt của người Việt chúng ta vốn tắt lửa tối đèn, sớm tối có nhau.
Cũng vậy, con cái lớn lên, họ đẩy chúng ra đời tự lập từ rất sớm và như một quy luật, khi đến tuổi về hưu, con cái sẽ cảm thấy không có trách nhiệm phải chăm sóc cha mẹ nên chúng tìm cách đưa vào nhà hưu dưỡng sớm cho rảnh nợ.  Người Việt chúng ta thì thường có hai, ba thế hệ sống chung trong một mái nhà.  Nhưng với người phương Tây thì không.  Đến thăm họ, bạn sẽ thấy nhiều khi chỉ có một cặp vợ chồng già, tự lo lắng chăm sóc cho nhau, còn con cái chúng sống ở những nơi khác, nhiều khi xa vạn dặm.
Khi còn học Chủng viện ở London, tôi đã từng có lần theo một gia đình Việt Nam đến dọn đồ giúp cho một Bà cụ chuẩn bị chuyển vào viện dưỡng lão.  Chuyện xảy ra hôm đó mãi vẫn còn in đậm dấu ấn trong tôi.  Làm sao quên được cảnh bà cụ bịn rịn, lưu luyến chia tay ngôi nhà mà bà đã từng sống trong hơn 50 năm trời.  Đám con cái của bà thì đứng lặng thinh nhìn Mẹ mình lần hồi từng bước chậm chạp, mân mê cái bàn, cái ghế, sờ vào cái tủ, cái kệ mà mắt thì ngân ngấn nước mắt còn miệng thì thầm thì như nói chuyện với những đồ vật đã gắn bó với cuộc sống của bà hơn nửa thế kỷ.  Bà năn nỉ xin các con cho mình mang theo chiếc đồng hồ quả lắc, cái tivi cũ mèm từ thập niên 80 và một vài món đồ khác là những kỷ niệm đặc biệt nhưng các con của Bà cụ dứt khoát không chịu, viện lý do phòng của bà ở nhà dưỡng lão nhỏ và chật chội.
Chuyện gì phải đến rồi cũng đến.  Tôi nhìn bà cụ được hai người con dìu ra xe để đưa đi nhà dưỡng lão mà lặng người.  Bà lê bước chân nặng nhọc, đầu cứ cố ngoái lại phía sau như thể muốn lưu giữ lại lần cuối hình ảnh của ngôi nhà yêu dấu với tâm trạng biết chắc rằng một khi đã ra đi thì không trở lại và chắc chắn lũ con sẽ bán lấy tiền mà chia nhau.
Nhưng xem ra như vậy là còn may mắn đó thưa bạn.  Bà vào nhà dưỡng lão, ở đó sẽ có những bạn già khác, có các nhân viên chăm sóc cho chuyện ăn uống, vệ sinh, ngủ nghỉ… còn hơn sống cô quạnh trong nhà lủi thủi một mình và tự mình làm hết mọi chuyện. 
Trường hợp của một cụ ông mà tôi làm lễ an táng ở thành phố Regina cách đây 2 năm còn thê thảm hơn.  Ông chết trong bệnh viện mà bên cạnh không có một thân nhân nào.  Có duy nhất một người con trai thì anh ta đang cùng gia đình đi du lịch mùa Hè ở Châu âu.  Nhà quàn đã gọi điện thoại cho anh ta để bàn bạc về chuyện tổ chức tang lễ và ngỏ ý sẵn lòng chờ đợi anh ta về thì mới tiến hành tang lễ.  Sau khi biết chi phí để bảo quản xác tại nhà quàn, anh ta đã thẳng thừng từ chối chuyện chờ đợi anh ta mà yêu cầu cứ tiến hành mọi chuyện vì anh ta sẽ đi trọn một tháng mới về.  Việc đơn giản nhất mà anh ta có thể làm được cho tang lễ của Bố mình là đọc cho nhân viên số thẻ ngân hàng để họ rút tiền trang trải chi phí tang lễ và hẹn ngày trở về sẽ coi lại sổ sách chi tiêu.
Đọc tới đây chắc bạn nghĩ sao mà thê thảm vậy? Làm sao lại đối xử với người có công sinh thành dưỡng dục nên mình tệ đến như vậy được? Nhưng quả thật chuyện đó đã xảy mà tôi đã từng được chứng kiến.
Nếu bạn có hiện diện trong những cử hành tang lễ của họ, bạn sẽ thấy điều này là không có khăn tang, không có nước mắt và không có chụp hình quay phim.  Tất cả đều lặng lẽ và êm ả.  Không kèn không trống, không có những tiếng khóc tiếc thương, không nhang khói và đèn cầy hay nến đỏ.  Có một vài lẵng hoa và con cháu tất cả đều âu phục màu đen u ám.
Tôi làm linh mục thấm thoát đã gần 3 năm, đã nhiều lần cử hành tang lễ cho đủ mọi hạng người.  Có một vài tang lễ cho những người khá nổi tiếng, nhiều và rất nhiều người đến tham dự, cũng có những tang lễ cho những người bình dân, chỉ chừng 100 người trở lại tham dự… Nhưng nhìn chung, tất cả đều như đã kể trên.  Người Tây họ trọng chí khí, họ sợ nước mắt hay những hình ảnh xấu xí, họ ưa cái đẹp và sự hoàn hảo một cách lạ lùng.  Việc đầu tiên cần làm cho người quá cố trước khi liệm xác là trang điểm khuôn mặt sao cho nhìn tươi tắn như đang ngủ; người còn sống họ không ưa thích nhìn thấy cảnh đau đớn, hãi hùng, không muốn thấy những giọt nước mắt hay những tiếng khóc than do vậy họ không hề khóc và không chụp ảnh quay phim trong tang lễ cũng như lúc tiễn biệt ngoài nghĩa trang.  Nói khác đi, họ không muốn bị ám ảnh về những cảnh chia li tử biệt sẽ có thể có sau này khi xem lại những đoạn phim hay hình ảnh về tang lễ.
Bài đã khá dài nên xin kết thúc nơi đây.  Chắc bạn cũng hình dung được sự khác biệt của hai nền văn hóa liên quan đến chuyện tiễn biệt, chia ly sống-chết.  Bài viết chỉ kể, chỉ thuật lại những gì đã xảy ra trong đời linh mục của tôi mà không có những nhận xét so sánh mang tính cách cá nhân.  Phần còn lại xin dành cho bạn.